Những điều cần biết
Anh Quốc: LÊN KẾ HOẠCH DU HỌC

Cặn kẽ về chương trình Quản trị truyền thông, Đại học Stirling, UK

3307

Thầy Lê Đức Tiến, giảng viên khoa Quản trị Kinh doanh bán lẻ, Đại học Kinh tế Đà Nẵng, đã có bài chia sẻ dành riêng cho Hotcourses Vietnam về trải nghiệm du học ngành Quản trị truyền thông ở Đại học Stirling. Bài phỏng vấn xoay quanh nội dung môn học, các tài liệu tham khảo và cả những khó khăn mà một sinh viên trái ngành (thầy Tiến tốt nghiệp Cử nhân Quản trị kinh doanh thương mại trước khi sang Anh học) đã trải qua.

 

>> Du học ngành truyền thông

>> Du học ngành Truyền thông doanh nghiệp ở Anh

 

 

Là một sinh viên “ngoại đạo”, thầy đánh giá như thế nào về các môn học được đào tạo trong chương trình? Với các nội dung đào tạo đó, liệu sinh viên Truyền thông và sinh viên có “gốc rễ” từ một ngành học khác có những thuận lợi/hạn chế nào?

Trong chương trình Quản trị truyền thông của trường Đại học Stirling, các môn học được thiết kế rất linh hoạt, và theo như tìm hiểu và quan sát của mình thì chương trình đào tạo có sự rà soát và thay đổi hàng năm cho phù hợp với xu hướng và điều kiện thực tiễn. Những môn học được thiết kế từ rộng đến hẹp, từ chung đến riêng, với khoảng 7 môn cho 2 học kỳ Thu Đông và Xuân Hạ, chốt lại bằng một Luận văn tốt nghiệp có yêu cầu là 12,000 từ.

 

Với các sinh viên có kiến thức căn bản về ngành truyền thông thì mình nghĩ họ sẽ học một cách rất thoải mái vì sự gắn kết giữa kiến thức đại học mà họ đã từng học. Trong lớp mình có 14 học viên thì chỉ có duy nhất một mình mình là học trái ngành đại học, còn lại các bạn đều là dân báo chí nên việc học với họ rất dễ dàng, và hiểu biết về thực tế của họ trong lĩnh vực truyền thông cũng không phải bàn vì trước khi đi học chương trình này thì họ hầu hết đều là phóng viên, biên tập viên, nhà sản xuất chương trình... của các hãng truyền thông.

 

 

Là dân học trái ngành, học kỳ đầu tiên phải nói là khá khó khăn vì sự xa lạ cả về lý thuyết lẫn thực tiễn. Mình hoàn toàn không hiểu về các thuật ngữ rất kinh điển của dân báo chí như The Fourth Estate (Quyền lực thứ tư) hoặc biết rất ít về các tổ chức truyền thông nổi tiếng trên thế giới như BBC, CNN hay Bloomberg hoặc các kỹ thuật dàn trang hay giật tít báo chí… Vì thế, trong khi các bạn tranh cãi và trao đổi rôm rả về các chủ đề này trong giờ giải lao, mình rất hoang mang và lo lắng về sự thiếu hụt này. Mình đã cố gắng tìm đọc trên thư viện hoặc cổng thông tin các tài liệu liên quan, nhất là các đầu sách mà giảng viên cung cấp. Một vài điều tích cực hiếm hoi mà dân ngoại đạo như mình có được đó là những ý kiến và nhìn nhận mới mẻ mà đôi khi dân trong nghề không để ý, và đặc biệt là một ý thức về sự thiếu hụt, thua thiệt về kiến thức sẽ kiến mình cố gắng hơn, chịu khó hơn trong việc thu thập thông tin, tư liệu, chịu hỏi và hỏi nhiều hơn trong việc giải quyết các bài luận được giao.

 

Chính áp lực học trái ngành đã khiến mình tiến bộ một cách nhanh chóng, khả năng nắm bắt những vấn đề cũng sâu sắc và thấu đáo hơn và đặc biệt là có một sự thay đổi rất lớn về tư duy để thích nghi và vượt qua những thử thách đó.

 

>> Du học ngành báo chí

>> Du học ngành Marketing

 

 

Thầy có thể chia sẻ về những nhóm môn học (module) trong chương trình? Môn học nào để lại ấn tượng cho thầy nhất?

Chương trình học của mình gồm có 7 môn và 1 luận văn tốt nghiệp. Học kỳ Thu Đông gồm 4 môn: Media Environment, Research Methods, Organizational Behaviour, Media Right còn học kỳ Xuân Hạ có 3 môn: Strategic Management, Marketing Communications, Media Policy and Regulations. Những môn học thú vị nhất là những môn mà mình có hiểu biết liên quan như Strategic Management & Marketing Communications.

 

>> Học Thạc sĩ Truyền thông – Thương hiệu tại Anh

>> Một số trường “điểm “về Truyền thông liên văn hóa

 

 

Được biết, sinh viên Quản lý truyền thông ở trường Stirling phải thực hiện một luận văn nghiên cứu vào cuối năm học. Bản thân thầy đã thực hiện đề tài gì và quá trình thực hiện có gì khó khăn?

Mặc dù là luận văn cuối khóa nhưng việc triển khai làm đề cương nghiên cứu đã diễn ra trong học kỳ Thu Đông (trong khuôn khổ môn học Research Methods) và được phân công giáo viên hướng dẫn ngay khi bắt đầu học kỳ Xuân Hạ nên thời gian bắt đầu làm luận văn cho khóa học của mình kéo dài gần 8-9 tháng.

 

Tuy vậy, bởi vì sự thiếu hụt kiến thức căn bản về truyền thông nên mình không dám lựa chọn những đề tài chuyên sâu về truyền thông. Đề tài mình đã chọn là Quan hệ công chúng trong các tổ chức truyền thông Việt Nam. Vì là một đề tài thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định tính, chủ yếu là bằng cách phỏng vấn các chuyên gia và nhà quản lý truyền thông ở Việt Nam, nên mình gặp khó khăn trong việc thu thập dữ liệu.

 

 

Mình chủ yếu phỏng vấn bằng việc đặt câu hỏi và nhận câu trả lời qua email bởi vì thời điểm đó các giao tiếp qua Skype hay các phần mềm khác là chưa có và việc gọi điện về Việt Nam thì cũng hạn chế bởi chi phí đắt đỏ.

 

Ngoài ra, việc lựa chọn đề tài về Quan hệ công chúng cũng đồng nghĩa với việc mình lại đi vào một chuyên ngành mới, vì truyền thông và quan hệ công chúng vốn là "hàng xóm" của nhau thôi. Mình phải tìm đọc hàng chục đầu sách và hàng trăm bài báo về quan hệ công chúng, tuy vậy quá trình này diễn ra khá thuận lợi vì mình đã thích nghi với sự liên quan của quan hệ công chúng với lĩnh vực marketing.

 

Ngoài ra, nhờ may mắn được phân công dưới sự hướng dẫn của Giáo sư Jacquie L'Etang, giám đốc chương trình nghiên cứu và đào tạo chuyên ngành Quan hệ công chúng của Trường Đại học Stirling, một nhà nghiên cứu hàng đầu châu Âu và thế giới về quan hệ công chúng, đã giúp mình học hỏi và hiểu biết rất nhiều về Quan hệ công chúng.

 

>> Du học ngành Quan hệ công chúng: Những điều cần biết

 

 

Theo thầy, việc không được đi thực tập trong quá trình theo học chương trình Quản lý truyền thông ở Stirling có phải là một hạn chế của chương trình?

Thời gian học tập chỉ kéo dài trong vòng một năm và ở bậc đào tạo Master of Science nên việc không đi thực tập theo mình là không ảnh hưởng nhiều lắm đến chất lượng của chương trình. Mình vẫn được đi tham quan các cơ sở truyền thông như trụ sở tập doàn BBC ở Glasgow và được tiếp xúc, gặp gỡ nhiều chuyên gia thực tế đến trường để chia sẻ các bài nói chuyện…

 

>> Đi thực tập ở nước ngoài là một cơ hội lớn, hãy bắt lấy!

>> “Được” và “mất” khi đi thực tập ở nước ngoài

 

 

Nếu đánh giá về chất lượng đào tạo của trường, thầy chấm bao nhiêu trên thang điểm 10, tại sao?

Mình đánh giá ở mức điểm 9.5 vì tính hiện đại và khoa học của chương trình đào tạo, vì sự kết hợp hài hòa giữa kiến thức lý thuyết với kinh nghiệm thực tế trong nội dung các môn học, vì sự hữu ích và nhiệt tâm của giảng viên trong chương trình, vì điều kiện cơ sở vật chất và nguồn dữ liệu hết sức phong phú của nhà trường, vì môi trường học thuật và các chương trình hỗ trợ hết sức hiệu quả mà nhà trường đã tổ chức.

 

 

 

Thầy có thể chia sẻ một số tài liệu mà mình đã sử dụng trong quá trình học tập tại Đại học Stirling? (HCVN hoan nghênh những đầu sách có thể đem lại thông tin khái quát về ngành Quản lý Truyền thông)

 

  • Blumler J. G. and Katz E., The Uses of Mass Communications: Current Perspectives on Gratifications Research, Sage Publications, Inc. (1974).

  • Cornelissen, J. (2004), Corporate Communications: Theory and Practice, SAGE Publications

  • Curtin P. A. and Gaither T. K. (2007), International Public Relations: Negotiating Culture, Identity, and Power, Sage

  • Davis A. (2004), Mastering Public Relations, Palgrave McMilan

  • Grunig J. E. & Hunt T. (1984), Managing Public Relations, Holt Rinehart.

  • Grunig J. E. and Grunig L. A. (2000), Public Relations in Strategic Management and Strategic management of Public Relations: Theory and Evidence from the IABC Excellence Project, Journalism Studies, Volume 1, Number 2, pp. 303-321

  • L’Etang J. (2008), Public Relations: Concepts, Practice and Critique, Sage

  • L’Etang J. (1998), The Development of British Public Relations in the Twentieth Century, Paper presented to the International Association for Media and Communication Research (IAMCR), Glasgow

  • L’Etang J. and Pieczka M. (2006), Public Relations: Critical Debates and Contemporary Practice, Lawrence Erlbaum Associates

  • L’Etang J. and Pieczka M. (1996), Critical Perspectives in Public Relations, International Thomson Business

  • Tench R. & Yeomans L. (2006), Exploring Public Relations, Pearson Education Limited

 

Xin cám ơn thầy đã chia sẻ và Hotcourses xin chúc thầy mọi điều tốt lành!

Tìm khóa học

Anh Quốc
Thạc sĩ
VỀ TÁC GIẢ

Sau thời gian du học chuyên ngành Truyền thông tại Pháp, Hà Lan và hoàn tất nhiệm kỳ Tình nguyện viên quốc tế Pháp ngữ (VIF) tại Lào, Trang Ami hiện sinh sống và làm việc tại Đà Nẵng. Bên cạnh công việc biên tập cho Hotcourses Vietnam từ 2012 đến nay, cô thường xuyên cộng tác cho Travellive magazine, đồng thời tham gia dịch phụ đề cho các phim tài liệu từ tiếng Pháp sang tiếng Việt. Cô là tác giả cuốn sách “Du học từ A tới đích” và là blogger kể chuyện hành trình qua trang blog cá nhân www.trangami.com.