Hệ thống giáo dục của New Zealand và Việt Nam có những điểm khác biệt, đặc biệt là ở bậc phổ thông trung học, đại học và sau đại học. Chính vì vậy, những kiến thức căn bản dưới đây sẽ giúp bạn dễ dàng có những lựa chọn học tập phù hợp.
Tổng quan về hệ thống giáo dục New Zealand
Hệ thống giáo dục của New Zealand được chia thành 3 cấp độ: Giáo dục mẫu giáo; Giáo dục phổ thông (tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông); Giáo dục đại học và sau đại học. Trong đó, bậc trung học phổ thông, đại học và sau đại học là những bậc học phổ biến được các bạn trẻ Việt Nam lựa chọn khi du học New Zealand
Giáo dục phổ thông bao gồm 13 lớp, từ Lớp 1 (5 tuổi) đến Lớp 13 (19 tuổi). Đa số các trường phổ thông là trường công và nhìn chung, các trường có cơ sở vật chất và chất lượng giảng dạy khá tương đồng. Hầu hết các trường phổ thông tiếp nhận cả học sinh nam và nữ, có khoảng 10% các trường chỉ nhận hoặc nam sinh hoặc nữ sinh, và có một số trường nội trú. Cũng có một số ít các trường là trường tư thục, hoặc các trường liên kết với các giáo hội.
Từ Lớp 1 đến Lớp 10, học sinh được tạo điều kiện tối đa để phát huy tiềm năng của bản thân thông qua chương trình học theo khung chuẩn quốc gia (New Zealand Curriculum – NZC). NZC bao phủ nhiều lĩnh vực, giúp học sinh định hình nền tảng vững chắc cho bản thân, đặc biệt là các kĩ năng sống và giá trị sống. Từ khoảng giữa năm Lớp 10, học sinh sẽ bắt đầu xác định con đường tương lai của mình, với các lựa chọn như: học đại học, học nghề, đi làm.
Nhìn chung, hệ thống giáo dục New Zealand sẽ có 3 loại văn bằng chính là Certificate, Diploma và Degree.
Bậc phổ thông trung học
Với bậc Phổ thông trung học (có thể được gọi là Secondary school, hoặc High school, hoặc College), học sinh sẽ học chương trình phổ biến nhất là Chứng chỉ Giáo Dục Quốc gia NCEA (National Certificate of Educational Achievement), tương đương với Bằng Tốt Nghiệp PTTH của Việt Nam. NCEA được thiết kế linh động, phù hợp với năng lực và sở thích của từng học sinh, cũng như với định hướng ngành học tương lai mà các em quan tâm. Với hình thức tích lũy tín chỉ, NCEA cho phép học sinh trung học được lựa chọn môn học theo thế mạnh của bản thân. NCEA có 3 cấp độ: 1, 2 và 3 tương đương với Lớp 10, 11 và 12 của Việt Nam. Sau cấp độ 1 và 2, các em có thể chọn học cấp độ tiếp theo hoặc chuyển sang học nghề (sau khi học nghề vẫn có thể tiếp tục lên đại học). Các trường phổ thông cũng giảng dạy nhiều môn học để giúp học sinh có thể đi làm hoặc theo học nghề sau khi rời trường phổ thông và các môn học này đều được ghi nhận tín chỉ để học sinh có thể hoàn thành NCEA.Chứng chỉ NCEA được tất cả các đại học tại New Zealand và tại các nước khác trên thế giới như Mỹ, Anh, Úc, Đức… công nhận. NCEA Level 3 tương đương với A-Levels ở Anh và Certificate of Education (ACE) ở Úc.
Lớp 13 ở New Zealand tương đương với Lớp 12 ở Việt Nam (vì các bạn nhỏ New Zealand bắt đầu học lớp 1 ngay sau sinh nhật 5 tuổi). Yêu cầu đầu vào của các trường phổ thông ở New Zealand rất linh động: học sinh không nhất thiết phải thi các chứng chỉ tiếng Anh (như IELTS, TOEFL…) mà chỉ cần nộp học bạ và nếu cần thiết thì sẽ được phỏng vấn hoặc làm một bài kiểm tra năng lực ngoại ngữ để các trường hỗ trợ thêm về mặt tiếng Anh khi học sinh theo học tại trường.
Ngoài NCEA, các bạn có thể chọn:
- Chương trình Cử nhân Quốc tế (IB): được công nhận toàn thế giới thuộc tổ chức giáo dục IBO. Chương trình này phổ biến và tương đối dễ học hơn CIE. Bạn cũng có thể apply các trường đại học khác nhau trên thế giới một cách dễ dàng.
- Chương trình CIE (Cambridge International Examinations): phổ biến là IGCSE cho lớp 11, AS cho lớp 12 và A level cho lớp 13. Chương trình này giống với A Level cho bạn muốn apply vào các trường đại học hàng đầu tại Anh. Nếu bạn muốn apply những trường đại học trên thế giới thì có chứng chỉ CIE này sẽ rất dễ dàng.
Hệ thống trung học của New Zealand bắt đầu vào cuối tháng 1 hoặc đầu tháng 2.
Bậc đại học và sau đại học
Bậc đại học và sau đại học gồm hệ thống các trường đại học, học viện kỹ nghệ, các trường tư thục.
Trường đại học (University)
New Zealand có 08 trường Đại học, bao gồm: University of Auckland, AUT University, Lincoln University, Victoria University of Wellington, Massey University, University of Waikato, University of Canterbury, University of Otago. Tất cả đều là trường công lập, có chất lượng khá tương đồng nhau. New Zealand là quốc gia duy nhất trên thế giới có tất cả các trường ĐH công lập nằm ở thứ hạng cao theo bảng xếp hạng các Đại học tốt nhất thế giới hàng năm (QS World University Rankings). Kết quả này đến từ phần đầu tư khoảng hàng trăm triệu đô la New Zealand mỗi năm của các trường ĐH New Zealand để phục vụ nghiên cứu. Ngân sách dành cho nghiên cứu và sáng tạo của 08 trường ĐH New Zealand chiếm hơn 1/3 ngân sách dành cho nghiên cứu và sáng tạo của cả nước. Hệ thống giám sát giáo dục các trường đại học tại New Zealand giúp đảm bảo tiêu chuẩn cao, học phí hợp lý và sự nhất quán trong cả công tác giảng dạy, nghiên cứu, có thể sánh ngang với các chương trình tương đương tại Úc, Canada và Anh, Mỹ.
Điều kiện đầu vào:
- Du học sinh tốt nghiệp THPT trở lên
- Điểm trung bình GPA từ 6.5 trở lên
- IELTS tương đương từ 6.0 – 6.5 trở lên tùy từng chương trình
Trường đại học đào tạo các chương trình Cử nhân, Thạc sĩ, Tiến sĩ. Các chương trình Cử nhân thường kéo dài 3 năm (với các ngành Kỹ sư thì thời gian học là 4 năm, các ngành Kiến trúc hoặc Thú y kéo dài 5 năm, và chương trình học ngành Y thường là 6 năm). Tùy vào thành tích học tập sau chương trình Cử nhân 3 năm, sinh viên có thể tiếp tục học thêm 1 năm để có bằng Cử nhân danh dự (Bachelor’s Honors Degree). Thời gian học Thạc sĩ có thể kéo dài 1 năm, 1 năm rưỡi hoặc 2 năm. Bậc Tiến sĩ có thời gian trung bình từ 3-4 năm thay vì 4-5 năm nhưng nhiều quốc gia khác.
hotcourses.vn
Học viện Kỹ nghệ (Institutes of Technology and Polytechnic - ITPs)
New Zealand có 16 Học viện Kỹ nghệ, đào tạo và giảng dạy các chương trình học thuật, nghề hoặc các khóa huấn luyện chuyên nghiệp với nhiều ngành học đa dạng, trọng tâm của chương trình giảng dạy là những kiến thức mang tính ứng dụng cao và cung cấp kinh nghiệm thực tế cho người học. Các học viện thường có tên gắn liền với Institute of Technology hay Polytech. Các học viện này có cơ sở vật chất và quy mô lớn cũng không thua kém gì các đại học ở trên, ví dụ 3 Polytech lớn và nổi tiếng nhất là:
ITPs thường xuyên tham khảo ý kiến với các doanh nghiệp để đảm bảo chương trình học và những kĩ năng của sinh viên có thể đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động. Ngoài Chứng chỉ (Certificate), Văn bằng (Diploma), ITPs cũng giảng dạy các chương trình Cử nhân, Thạc sĩ và Tiến sĩ, và giá trị của các bằng cấp được công nhận tại New Zealand cũng như trên toàn cầu.
Điều kiện đầu vào:
- Du học sinh học xong lớp 11 trở lên
- Điểm trung bình GPA từ 6.5 trở lên
- IELTS tương đương từ 5.0 – 5.5 trở lên tùy từng chương trình. Các chương trình đào tạo đại học, thạc sĩ IELTS phải từ 6.0 – 6.5 trở lên.
Các trường tư thục (Private Training Establishments - PTEs)
Có hơn 500 trường tư thục có đăng ký hoạt động ở New Zealand. Nhiều trường tư thục có các khóa học thích hợp để đào tạo các ngành nghề cụ thể, giúp sinh viên đạt được những chứng chỉ và văn bằng để có thể đi làm ngay sau tốt nghiệp. Các trường tư cung cấp đa dạng lựa chọn học tập cho sinh viên, từ các ngành kiểm soát không lưu, phi công và đào tạo máy tính cũng như đào tạo giáo viên mầm non, du lịch và các ngành thiết kế.
Các trường này ở New Zealand đào tạo đa nghề hoặc chỉ đào tạo 1 nghề. Các trường này phải tuân thủ theo khung bằng cấp New Zealand và cơ quan quản lý chất lượng giáo dục New Zealand Qualifications Authority.
Chương trình học thường bao gồm:
- Chứng chỉ nghề I-IV (Certificate I-IV): đào tạo khoảng tầm 6 tháng
- Bằng cao đẳng nghề (Diploma): đào tạo khoảng 18 – 24 tháng
- Bằng cao đẳng nâng cao (Advanced Diploma): từ 24 – 36 tháng.
Điều kiện đầu vào:
- Học xong lớp 11 trở lên
- Điểm trung bình GPA từ 6.5 trở lên
- IELTS tương đương từ 5.0 – 5.5 trở lên tùy từng chương trình
Cần phân biệt với khóa học Diploma stage 1 và stage 2 cũng là bằng cao đẳng, nhưng dành cho những bạn muốn chuyển tiếp vào năm 2 các trường đại học danh tiếng tại New Zealand và mang tính chất là khóa dự bị nhiều hơn. Chương trình này thường dạy tại các trường cao đẳng trong chính các trường đại học.
Lưu ý là cả PTEs và ITPs đều gọi là các trường Non – University. Trong khi các trường PTEs chủ yếu đào tạo các chương trình nghề thì trường ITPs đào tạo cao đẳng, cao đẳng nâng cao, và cả cử nhân và một số trường đào tạo cả bậc thạc sĩ. Các trường ITPs có ranking thấp hơn đào tạo nghiêng về thực hành nhiều hơn và học phí ưu đãi hơn so với các trường đại học.
Ngoài ra, các trường đại học và học viện công nghệ ở New Zealand thường có 2 kỳ nhập học chính (cũng được xem như là học kỳ):
-
Học kỳ 1: bắt đầu vào cuối tháng 2/ đầu tháng 3 đến cuối tháng 5/ đầu tháng 6
-
Học kỳ 2: bắt đầu vào cuối tháng 7/ đầu tháng 8 kéo dài đến tháng 11
Một lựa chọn khác cũng được đông đảo sinh viên quốc tế theo học tại New Zealand là các khóa học tiếng Anh, từ Tiếng Anh tổng quát hỗ trợ giao tiếp, du lịch,… cho đến các khóa Tiếng Anh luyện thi IELTS, TOELF, Cambridge; Tiếng Anh học thuật; Tiếng Anh chuyên ngành; các khóa học này được thiết kế linh động để phù hợp với nhu cầu và trình độ của từng học viên.
>> Bắt đầu với hành trình du học New Zealand
*Bài viết được chỉnh sửa bởi tác giả Võ Quỳnh Hương vào ngày 02/10/2024.